Những phương pháp điều trị hiện nay đối với bện viem gan virus B  (HBV) có hiệu quả trong việc ức chế sự nhân lên của virus nhưng lại kém hiệu quả trong việc thải trừ virus ra khỏi cơ thể. Do vậy, phần lớn bệnh nhân viêm gan virus B mạn thường được duy trì thuốc kháng virus lâu dài. Hiện nay, các nghiên cứu ngày càng quan tâm nhiều hơn trong việc tìm ra những phương pháp điều trị làm gia tăng thải trừ những tế bào gan bị nhiễm bệnh, từ đó làm cạn kiệt nguồn dự trữ HBV- DNA ở trong gan. Thuốc Birinapant đang ở giai đoạn thử nghiệm lâm sàng  là hy vọng điều trị hiệu quả viêm gan B trong tương lai.

Nghiên cứu của các nhà khoa học Úc đã chứng minh rằng các cIAPs ảnh hưởng đến sự thải trừ nhiễm HBV bằng cách ngăn ngừa sự tiêu diệt tế bào bị nhiễm qua trung gian TNF (Tumor Necrotizing Factor = Yếu tố gây hoại tử khối u). Với phát hiện của nghiên cứu này, có thể là cơ sở để phát minh ra các thuốc làm gia tăng sự thải trừ những tế bào bị nhiễm bệnh. Thuốc Birinapant (ức chế các cIAPs) đang ở giai đoạn thử nghiệm lâm sàng  điều trị ung thư bằng tăng tiêu diệt khối u qua trung gian TNF.

Nghiên cứu của Gregor Ebert, Cody Allison, Simon Preston, James Cooney, Jesse G. Toe, Michael D. Stutz, Samar Ojaimi, Nikola Baschuk, Ueli Nachbur, Joseph Torresi, John Silke, C. Glenn Begley, Marc Pellegrini,…triển khai trên mô hình chuột thử nghiệm bị nhiễm HBV mạn tính, Birinapant có khả làm giảm nhanh HBV-DNA và kháng nguyên bề mặt của HBV (HBsAg) ở trong huyết thanh và chúng làm gia tăng thải trừ những tế bào gan chứa kháng nguyên lõi của HBV (HBcAg). Hiệu quả của Birinapant trong điều trị nhiễm HBV phụ thuộc vào hóa sinh của chúng, tế bào lympho T CD4+ của vật chủ và TNF. Thuốc Birinapant làm gia tăng khả năng của Entecavir, làm giảm nhanh sản sinh HBV-DNA. Những kết quả nghiên cứu này chứng tỏ rằng Birinapant có thể có hiệu quả trong điều trị nhiễm HBV và có lẽ cả những nhiễm khuẩn nội bào khác.

BS Tuấn Anh (cập nhật)