9e7c8b2bb19965f7ad1732f7f7d53a77

Vào giữa thập niên 70, Harvey J. Alter, Chủ nhiệm bộ môn Bệnh Lây Truyền thuộc Viện Y Tế Quốc Gia Mỹ và nhóm nghiên cứu của ông chứng minh hầu hết các ca viêm gan sau tiêm truyền không do virut viêm gan A hoặc B. Nhưng các nỗ lực nghiên cứu quốc tếnhằm tìm cách xác định siêu vi, mà lúc đầu gọi là “viêm gan không Akhông B" đều bị thất bại trong thập niên sau đó. Vào năm 1987, MichaelHoughton, Qui-Lim Choo, và George Kuo thuộc Chiron Corporation, cộng tác với bác sĩ D.W. Bradley thuộc Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh CDC, đã dùng phương pháp khuếch đại gen nhằm xác định vi sinh vật chưabiết này.Vào tháng 4 năm 1989, việc phát hiện HCV được công bố trong haibài báo trên tạp chí Science.

aaahepc

Ước tính có 130–170  triệu người, hay khoảng 3% dân số thế giới, sống chung với viêm gan C mãn tính hepatitis C. Có khoảng 3–4   triệu người nhiễm bệnh mỗi năm, và hơn 350,000 người tử vong do các biến chứng của viêm gan C mỗi năm. Trong số những bệnh nhân viêm mạn tính, nguy cơ bị xơ gan sau 20 năm có khác nhau giữa các nghiên cứu nhưng ước tính khoảng10%-15% ở nam và khoảng 1-5% ở nữ. Một khi bị xơ gan thì tỉ lệ tiếntriến sang ung thư biểu mô tế bào gan là từ 1%-4% mỗi năm.

Ở Mỹ, khoảng 2% dân số bị viêm gan C hepatitis C, với khoảng 35,000 đến 185,000 ca mới mỗi năm. Tỉ lệ mắc bệnh giảm ở cácnước phương Tây vào thập niên 90 nhờ cải thiện việc kiểm tra máu trướckhi truyền. Tỉ lệ tử vong hàng năm do HCV ở Mỹ từ 8,000 đến 10,000; tỉ lệ tử vongđược dự tính sẽ tăng vì những người bị nhiễm do truyền máu trước khi xétnghiệm HCV cho kết quả dương tính.

Tỉ lệ mắc bệnh cao hơn ở một số nước châu Phi và châu Á. Những nước có tỉ lệ bệnh đặc biệt cao là Ai Cập (22%), Pakistan (4.8%) và Trung Quốc (3.2%).

Tỷ lệ nhiễm viêm gan C ở Việt Nam thấp trong dân số nói chung nhưng tập trung ở những người tiêm chích ma túy, có thể tới 97%. Tuy nhiên, điềuđáng lo ngại hơn khi căn bệnh này đang ngày càng trẻ hóa tại Việt Nam. Khoảng 85% bệnh nhân nhiễm HCV sẽ chuyển thành mạn tính và khoảng 20 đến25% bệnh nhân mạn tính sẽ chuyển qua xơ gan và ung thư gan. Theo sốliệu thống kê ngành y tế, lượng bệnh nhân HCV ở Việt Nam có thể đã lên đến con số 2 triệu người. Ngoài ra, số liệu của Bệnh viện Nhiệt Đới TPHCM cho thấy mỗi ngày bệnh viện này tiếp nhận từ 700 đến 800 lượt bệnh nhân đến khám gan, trong đó có hơn 10% trường hợp nhiễm HCV.

Cấu trúc: HCV thuộc họ Flaviviridae, là virut chứa RNA sợi đơn, xoắn, đượccấu tạo bởi 9033 nucleotid. Virut hình khối, có vỏ bọc, đường kính 60-80nm. Vỏ bao capsid của HCV được cấu tạo bởi protein và lớp bào ngoài cấutạo bởi lipid , do đó dễ bị bất hoạt bởi ether và chloroform.

Genome của virus chứa ARN một sợi mang các gen mã hóa cho nucleocapsid của lõi, cho protein màng, glycoprotein của vỏ và protein cần thiết cho sự sao chép của virus. Hiện nay có ít nhất 6 genotype của virus này được biết trên cơ sở phân tích chuỗi axit nucleic của genome virus. Virus sao chép và nhân lên ở dòng tế bào gan của người hoặc vượn, nhưng mức độ sao chép của virus thấp.

2. Dịch tể học

Virus viêm gan C truyền bệnh qua đường truyền máu hoặc các sản phẩm của máu, đặcbiệt gặp ở những bệnh nhân tiếp nhận các yếu tố đông máu trộn lẫn từnhiều người. Các đường lây truyền khác như ở người nghiện chích thuốcqua đường tĩnh mạch, qua da, qua tiếp xúc sinh dục, qua dụng cụ thẩm phân máu...

3. Tính chất gây bệnh

HCV gây viêm gan cấp và có khuynh hướng trở thành mạn  ở hầu hết các cá nhân bị nhiễmtrùng. Trên mô hình nhiễm trùng thực nghiệm ở vượn cho thấy trong viêmgan C cấp có ít hoại tử cục bộ tế bào gan trong giai đoạn đầu, kèm thâmnhiễm nhẹ tế bào lymphocyte trong tổ chức tổn thương. ARN của virus đượctìm thấy ở tổ chức gan và tồn tại nhiều tuần.

Viêm gan cấp do HCV không đưa đến suy gan cấp, trừ phi bệnh xảy ra ở những cá nhân có nhiễmtrùng mạn với HBV trước. Khoảng 50- 70% viêm gan C cấp diễn tiến đếnmạn. Cơ chế tổn thương gan ở viêm gan C mạn tính không những do virus màcòn liên hệ đên bệnh lý tự miễn dịch của cơ thể. Biến chứng của viêmgan C mạn cuối cùng đưa đến xơ gan ở 20 - 25% trường hợp và ung thư tế bào gan.

4. Chẩn đoán

Thử nghiệm miễn dịch liên kết enzyme  (ELISA) có thể xác định kháng thể trong huyết thanh bệnh nhân vàđây là kỹ thuật thường dùng hiện nay. Thử nghiệm western blot (RIBA)xác định kháng thể được dùng khi ELISA cho kết quả nghi ngờ. Khángnguyên dùng trong cả hai loại kỹ thuật trên là các protein tái tổ hợpcủa HCV. Tuỳ theo các thành phần protein kháng nguyên được dùng trongcác thử nghiệm mà có các thế hệ ELISA1, ELISA2, và ELISA3, cũng tương tựnhư thế có RIBA1, RIBA2 và RIBA3. Các thử nghiệm thế hệ sau có độ nhạytốt hơn.

Trong viêm gan cấp kháng thể (Anti-HCV) dương tính chậmsau hai tháng, 60 - 80% dương tính sau 6 tháng, kháng thể HCV dương tínhở 80% trường hợp viêm gan mạn

Kỹ thuật khuếch đại chuỗi gen(RT-PCR) để xác định ARN của HCV trong huyết thanh người bệnh, kỹ thuậtRT-PCR định lượng xác định lượng virus máu được dùng cho việc theo dõikết quả điều trị

5. Phòng và điều trị

5.1. Phòng bệnh

Hiện nay chưa có vaccine để phòng bệnh cho virus viêm gan C. Phòng sự lây nhiễm bằng kiểm tra máu kỹ lưỡng ở những người cho máu, đảm bảo không nhiễm virus HCV trong tiêm chích, tiêm truyền....

BS Tuấn Anh