TÓM TẮT:

Với 44 ca có hình ảnh siêu âm gan được các tác giả miều tả là dạng thâm nhiễm gan khu trú cùng các huyết thanh chẩn đoán Fasciola dương tính vàbạch cầu ái toan máu ngoại biên tăng cao, các tác giả tán thành thông báo của bệnh viện Chợ Rẩy và đề nghị biện pháp phát hiện và chẩn đoán nhiễm Fasciola ở tại Miền Trung Việt Nam.

I- ĐẶT VẤN ĐỀ:

Từ năm 1996, một số trường hợp bệnh nhân từ các tỉnh Miền trung Việt Nam, nhất là Khánh Hòa, có các tổn thương nhu mô gan khá đặc biệt trên siêu âm. Các bệnh nhân này được điều trị dài ngày như áp – xe gan tại địa phương mà không đáp ứng về lâm sàng, và hầu như không thay đổi hình ảnh siêu âm. Huyết thanh chẩn đoán amíp các trường hợp này thường âm tính hoặc yếu (hiệu giá 1/128-1/800) và dịch chọc hút thường là mủ vàng đục, lượng ít và chủ yếu có tế bào viêm, chủ yếu là bạch cầu đa nhân trung tính. Với chất dịch chọc hút dược lâm sàng không nghĩ do vi trùng. Theo thông báo ban đầu của bệnh viện Chợ Rẫy (3) những bệnh nhân này được cho là nhiễm Sán lá gan lớn Fasciola sp. Cơ sở chẩn đoán dựa vào hình ảnh siêu âm, kết quả huyết thanh chẩn đoán Fasciola gigantica), và tìm được trứng Fasciola trong phân (02/20 trường hợp).

Hiện nay trong khi có các báo cáo về các trường hợp nhiễm Schistosomia và Clonorchis vẫn chưa có thông báo nào về bệnh lý Sán lá gan lớn Fasciola ở người tại Việt Nam.

Từ khi có thông báo của bệnh viện Chợ Rẫy, chúng tôi cho làm các xét nghiệm máu, phân… để tìm Fasciola ở các bệnh nhân có tổn thương gan khu trú nghi ngờ thì đến nay thu thập thêm được 44 lượt khám siêu âm có dấu vết của Fasciola qua xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán ELISA (do bộ môn Ký sinh trùng, Khoa Y Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh thực hiện)

Đây là một công trình cắt ngang, mô tả và tiến cứu với siêu âm giữ vai trò sàng lọc nhằm góp phần tìm hiểu bản chất tổn thương gan trên siêu âm và nguyên nhân của một dạng bệnh lý khu trú chủ mô gan tương đối đặc biệt mới xuất hiện tại Việt Nam.

II. ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP :

  • Đối tượng :

Là các bệnh nhân tự đến khám siêu âm hoặc do khoa Bệnh lý Gan của Trung tâm Y khoa MEDIC, Trung tâm Bệnh Nhiệt đới… yêu cầu khám siêu âm. Tiêu chuẩn chọn bệnh là có tổn thương gan nghi ngờ, huyết thanh chẩn đoán Fasciola > 1/3200 và bạch cầu đa nhân ái toan cao. Gồm 44 lượt khám của bệnh nhân

  • Phương pháp :

Các bệnh nhân được cùng một người khám siêu âm, sử dụng máy KONTRON SIGMA 1, đầu dò sector 5.0 MHz, và ALOKA 1400, đầu dò convex 3.5 MHz. Bác sĩ khám siêu âm không được thông báo trước bệnh lý Gan cho các xét nghiệm, kết luận , kết luận biện pháp điều trị và theo dõi. Hồ sơ được lưu trữ theo từng cá nhân và thống kê lại theo các phương pháp thông thường.

 

III- KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN:

Gồm 44 ca (30 nữ và 14 nam), trong số này chúng tôi trực tiếp theo dõi và điều trị 11 ca có gan tổn thương 2 vùng, 1 ca 3 vùng. Đa số (14/43 ca = 31.81%) ở Khánh Hòa (Nha Trang), Qui Nhơn 6 ca (13.64%, Daklak (KonTum) và Thành phố Hồ Chí Minh 4 ca (9.09%), Cam Ranh 1 ca (2.27%). Đa số bệnh nhân có ăn gỏi cá sống và ruột mắm lóc kiểu Miền Trung. Những bệnh nhân ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam thường có lúc công tác hoặc cư trú tạm thời vùng duyên hải Miền trung

Hình ảnh siêu âm của 44 lượt khám siêu âm, xem bảng 1

 

Triệu chứng chung Số ca Tỉ lệ % n=44
Cấu trúc chủ mô gan không đồng nhất 44 100.0
Có vị trí dưới bao 7 15.90
Ở phân thùy 5-6 15 34.09
Có nhiều ổ áp xe nhỏ 21 47.73
Nền tổn thương có echo kém 15 34.09
Nền tổn thương có echo dày 7 15.90
Có vôi hóa nhỏ li ti 0  
Hạch rốn gan 0  
Có dạng giống hemangioma 0  
Dày vách đường mật khu trú 13 29.55
Dày vách túi mật 0  
Có dấu hiệu vòng Olympic 1 2.27
Có tụ dịch ngoài gan 0  
Có hình ảnh dị vật đường mật 1 2.27

Bảng 1: Các triệu chứng siêu âm tổn thương gan do sán lá gan lớn.

 

Theo y văn, ở người bị nhiễm Fasciola có tổn thương về gan (hepatic fascioliasis) và tổn thương về đường mật (biliary fasciolasis). Tuy nhiên trong lô nghiên cứu của chúng tôi chưa từng thấy được tổn thương đường mật bằng siêu âm, và biểu hiện tổn thương đường mật cũng hiếm gặp.

Cơ chế gây bệnh của Fasciola Hepatica

  • Có gây hoại tử áp xe
  • Có gây xơ hóa chủ mô
  • Có gây viêm gan khoảng giữa
  • Có gây thương đường mật, nơi định cư

index

Đặc điểm tổn thương chủ mô gan thấy trên siêu âm : dạng thâm nhiểm là phổ biến, có thể gọi là thâm nhiễm gan do sán lá gan lớn. Các tổn thương gọi là áp-xe thiết nghĩ chỉ là chỗ nang hóa, điều này phù hợp với hình ảnh chụp cắt lớp điện toán CT-scan cho kiểu tổn thương gan ở siêu âm đa dạng hơn. Dấu hiệu dãn và dày vách đường mật hiếm gặp trong lô nghiên cứu của chúng tôi, có thể do tổn thương hãy còn ở giai đoạn sớm. Dấu hiện tích tụ dịch dưới bao gan không thường gặp, và tổn thương ở phân thùy 5-6 cũng không phải là qui luật.

resize_399x299

Nguyên nhân tổn thương : Kích thước Fasciola trung bình 3.0 x 1.8 cm, vật về lý thuyết có thể quan sát được trên siêu âm như ngoại vật trong gan, nhưng chưa phát hiện được lần nào. Dù sao cần tìm sán lá gan trong tổn thương gan để chẩn đoán xác định, và đặc hiệu nhất.

Diễn tiến điều trị : Với điều trị (như phác đồ điều trị áp-xe gan với Emetin và Praziquantel, vì không có bithionol hay Triclabendazol tại Việt Nam) trong khi về lâm sàng có cải thiện (cắt sốt, giảm đau) hình ảnh tổn thương trên siêu ân rất chậm thay đổi, không thấy thêm có hiện tượng tạo nang, không có vôi hóa, chỉ thu nhỏ kích thước thương tổn.

 

IV. KẾT LUẬN:

Tiếp sau thông báo của bệnh viện Chợ Rẩy, với 44 ca thu nhập trong vòng 1 năm, chúng tôi xin xác nhận lại và mô tả một dạng tổn thương gan xuất hiện tại vùng duyên hải Miền trung Việt Nam, đặc biệt là Khánh Hòa, có thể tình cờ thấy được lúc khám siêu âm. Có thể cho đếm bạch cầu ái toan trong máu ngoại biên để định hướng chẩn đoán nếu không thể làm thêm các xét nghiệm để tìm Fasciola (trứng trong phân, huyết thanh chẩn đoán Fasciola, tốc độ lắng máu, dịch hút tá tràng….). Hoặc khi điều trị các áp-xe gan chậm đáp ứng có thể nghĩ tới Fasciola, bên cạnh các nguyên nhân khác như lao, nấm nội tạng….. Do chưa có kinh nghiệm nhiều trong việc chẩn đoán và theo dõi điều trị loại bệnh lý này, việc tiếp tục nghiên cứu và thu thập dữ kiện là cần thiết để kết luận được có bệnh lý nhiễm Fasciola ở người tại Việt Nam không.

PHẠM THỊ THU THỦY, NGUYỄN THIỆN HÙNG